|
Chợ nổi miền Tây Nam Bộ
Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán.
Chợ họp suốt cả ngày, nhưng nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Thuyền, ghe tấp nập đi lại, luồn lách trên mặt nước. Tiếng chào mời mua bán, tiếng cười nói gọi nhau, tiếng nổ của động cơ... làm vang động cả một vùng làm cho chợ nổi thật nhộn nhịp và sôi động. Trên thuyền chất đầy hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quít, bưởi, măng cụt, sầu riêng..., sản vật của vùng sông nước kênh rạch như: cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi... Chủ nhân vài ghe, thuyền treo lủng lẳng một vài thứ trái cây, hàng hoá hay một bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi thuyền của mình, cái cao cái thấp, cái thẳng cái nghiêng trông thật lạ mắt.

Một thoáng Miền Tây
Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá... cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và dường như thoả mãn mọi nhu cầu mua sắm, sinh hoạt đời thường của người dân vùng này. Các chợ nổi lớn của miền Tây như Phụng Hiệp, Ngã Bảy, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)... Phần lớn nông sản hàng hoá ở đây được bán sỉ cho những thương nhân rồi từ đó được chuyển tới các nhà máy chế biến thực phẩm, hoa trái hay chở ra tận Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Chợ nổi là nét sinh hoạt độc đáo của người dân vùng châu thổ sông Cửu Long.
Về miền Tây - thăm đất Hậu Giang
Miền Tây được biết đến với những con sông chạy dài xa tít tắp, chiếc cầu khỉ chênh vênh bắc qua nhiều con rạch ngoằn nghèo. Miền Tây - “tình phù sa tuy đục mà trong”. Về miền Tây thăm đất Hậu Giang. Miền Tây, đến một lần rồi say mình trước những dòng sông thương nhớ. Để nhớ, nhớ mãi rồi lại tìm về!
Miền Tây hiện ra với hai bờ sông san sát những căn nhà mái tôn đơn sơ, nằm chông chênh trên những cây cọc tràm hoặc xi măng. Dưới bến, những đứa trẻ đen nhẻm vùng vẫy trong dòng nước màu xám, toe toét cười, vẫy vẫy tay chào khách với những nụ cười rộng mở, vô lo. Đến với vùng đất này, du khách lên thuyền rồi lướt qua những rặng cây, những làng nghề, vườn ăn trái. Mỗi chỗ, dừng chân một chút để thưởng thức cái đặc sắc của đặc sản miền Tây cũng như sự tiếp đón ân cần, niềm nở của người dân nơi đây.
Cuộc sống bình dị với những nụ cười
Một trong những thú vui của du lịch miền Tây là thăm các làng nghề, các lò bánh, lò cốm. Cơ sở sản xuất bánh giấy của chị Nguyễn Thị Út lúc nào cũng có khách ghé thăm. Những cái bánh giấy hình bán cầu vàng nhạt, bánh khoai hình tròn vàng nâu, lấm tấm mè, trông thật hấp dẫn. Thử một cái, bánh nóng hổi, dòn rùm rụm, nhanh chóng tan trong miệng, để lại vị ngòn ngọt của đường cát, vị beo béo của nước dừa và mùi thơm ngào ngạt của vani, của mè. Lò cốm của anh Phạm Văn Hồ gần đó. Cả đoàn đứng quanh xem anh thợ trẻ tên Ba làm việc. Chỉ với khoảng 2 lon thóc nếp, sau khi rang với cát nóng, thóc nở bung ra thành một rổ bỏng trắng bóc. Sàng cát và vỏ trấu, bỏng được ngào đường trộn nước cốt dừa rồi ép khuôn, cắt thành từng miếng nhỏ hình chữ nhật.

Làng nghề truyền thống
Xưởng sản xuất kẹo dừa của anh Trần Văn Minh nằm trên một nhánh nhỏ của sông Tiền. Nước cốt dừa được cô trong những cái chảo to đến khi đặc sánh rồi đổ ra khay chờ khô, cắt thành viên rồi gói giấy, đóng bao…Những đôi mắt thán phục nhìn con dao trên tay chị Vui, vợ anh Minh, lướt trên những mảng kẹo, chia ra thành những viên nhỏ đều tăm tắp...
Rừng tràm, đặc trưng sông nước miền Tây
Thuyền tiếp tục lướt qua những rặng sú, rặng bần, những vườn nhãn trĩu quả để cập bến cù lao An Bình, với mầu xanh ngút ngàn của những vườn cây ăn trái. Chúng tôi mê mải ngắm những chùm chôm chôm đỏ lấp ló sau những tán lá xanh, hỏi chú Bảy Râu, chủ nhà: “Sao chú không hái, để chín, lỡ rụng, uổng!”. Chú Bảy cười hồn hậu, lắc đầu: “Hái chi! Để khách dùng cho thoải mái! Đáng bao nhiêu!”. Phía sau nhà là vườn sầu riêng rậm rạp. Gió từ dòng kênh thổi tới, đưa mùi hương đặc trưng của trái chín lan tỏa khắp không gian làm ngất ngây du khách.
Bữa trưa dọn ra dưới bóng râm của những tàng cây trĩu quả. Chỉ là những món ăn bình dân miệt vườn: Canh cải xanh nấu gừng, cá kèo kho khô, đậu cô ve xào, tôm rim…Vậy mà thật ngon! Có lẽ nhờ nguyên liệu “tại chỗ” tươi rói? Tôi nói ý này với chú Bảy, chú gật đầu: “Miệt vườn này năm nào cũng có lũ. Cực thì cực thật nhưng nhờ lũ mà cù lao được bồi đắp phù sa. Nên cây trồng ở đây thứ gì cũng ngon ngọt!”.
Rừng chàm miền Tây
Sau bữa trưa, chúng tôi được nằm nghỉ ngơi trên những cái võng trong vườn. Vừa đu đưa, vừa lắng nghe chim hót, cũng là một cái thú khó tìm ở thành phố. Đâu đó vọng lại tiếng gáy của cu cườm. Tiếng kêu thân thuộc kéo tôi về thời thơ ấu đầy ắp tiếng chim cu. Dạo đó, tôi hay cùng bọn trẻ trong xóm lội qua con sông nhỏ trước nhà mùa nước cạn, sang bờ bên kia hái sim. Những trái sim chín mọng, đen bóng, ngọt lừ…
Sống ở thành phố, rất lâu rồi tôi không được nghe tiếng cu gáy. Những quả sim và dòng sông cạn, nước trong vắt, lơ thơ chảy, cuốn theo những viên sỏi trắng phau dưới đáy thường trở về, khắc khoải trong nỗi nhớ của tôi về một miền đất kỷ niệm. Thật kỳ lạ, là ngay ở đây, trên miền Tây xa xôi này, tôi lại được trở về với tuổi thơ qua tiếng chim gù, sống động và tươi rói.
Thuyền lại tiếp tục len lỏi giữa những làng nuôi cá bè sầm uất trên sông Hậu. Mỗi nhà bè là một thế giới thu nhỏ với mọi hoạt động của cuộc sống từ: ăn uống, tắm rửa, học hành, yêu nhau và sinh con đẻ cái…

Cái thú của miền Tây
Vào nhà của anh Hưng, cả đoàn quây lại ngắm những đàn cá ba-sa, cá điêu hồng, cá rô phi… tranh nhau nhảy lên đớp mồi. Dưới ánh nắng, vảy của chúng óng ánh như pháo hoa trong đêm hội. Một cảnh tượng hiếm hoi mà nếu không đến miền Tây, sẽ chẳng bao giờ tôi được thấy.
Nghề dệt thổ cẩm ở làng Chăm cũng là điểm đến lý thú. Không chỉ để chọn lựa vài thứ trong số đủ loại thổ cẩm về làm quà, mà còn có thể ngắm các cô gái Chăm duyên dáng bên khung dệt, nghe tiếng lách cách vui tai của thoi đưa.
Thành phố Cần Thơ, thủ phủ miền Tây, nơi sầm uất nhất vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, trải dài 65km bên bờ sông MeKong huyền thoại. Một đêm ở lại “Tây Đô”, tôi đã lang thang khắp thành phố trên chiếc xe đạp lôi đặc trưng miền Tây của ông Sáu Thơ. Và cảm thấy nơi đây cũng thật bình yên lạ, không thấy có chuyện bị cướp giật đêm hôm như các thành phố lớn.
Bến Ninh Kiều - Niềm vui niềm tự hào Cần Thơ
Đến bến Ninh Kiều, một thắng cảnh của Cần Thơ, ông Sáu đưa tay chỉ ra sông: “Sắp tới đây, chính quyền sẽ cho xây một tuyến kè dài 10km, dọc theo hai bên sông, nối với bến Ninh Kiều”. Giọng ông đầy tự hào: “Mức đầu tư đến 575 tỉ đồng lận!”. Tôi thoáng chút ngạc nhiên, một người dân bình dị như ông Sáu mà cũng rành phương án qui hoạch vậy sao?
Ngày thứ 3, thuyền lướt qua những đám lục bình xanh ngắt đang lừ đừ trôi, những khu rừng tràm rậm rạp, những chiếc ghe chở đầy trái cây đủ màu, rau xanh đủ loại đang băng băng trên dòng sông, ngang qua những chiếc xuồng ba lá có những cô gái đang rướn người, gồng mình khoát mái chèo…, đến chợ nổi Cái Răng.
Buôn bán trên sông nước ở Chợ nổi Cái Răng, Cần Thơ.
Chợ đang giữa buổi, san sát đủ loại ghe thuyền với cách giới thiệu sản phẩm độc đáo: một cây sào (cây bẹo) treo hàng hóa cắm trước mũi. Cứ nhìn vào những “cây bẹo” sẽ biết trên ghe bán gì: bầu bí, dưa hấu, hành củ, sắn nước, khoai mì, khoai lang... Ngoài ra, trong chợ còn có những chiếc ghe dịch vụ, như những cái quán di động, phục vụ các nhu cầu khác: đồ ăn, thức uống, thuốc men…, và cả nhu cầu làm đẹp: cắt tóc, gội đầu, mát-xa, xông hơi, bấm huyệt…
Chợ nổi trên sông - nét văn hóa miền Tây
Không chụp giật, chèo kéo hay có bất cứ hành động chèn ép khách mà để khách đến tự chọn tự cảm nhận và tự thấy thích thú theo những cách riêng. Chỉ rất bình thường, bình dị từ hành động, lời nói, cách tiếp đãi ân cần, người dân vùng sông nước nơi đây đã để lại ấn tượng mạnh trong lòng du khách. Tất cả những hình ảnh đó sẽ còn níu kéo chúng tôi trở lại vùng đất đã trở nên thân thương này không chỉ một lần nữa… Tạm biệt Hậu Giang, chào thành phố Cần Thơ yêu mến, chia tay miền Tây nhưng câu hát về một vùng đất Nam Bộ của nhạc sĩ Trần Long Ẩn cứ vương mãi trong trí óc tôi, đan xen nhiều cảm xúc lẫn lộn.
“Về miền Tây thăm đất Hậu Giang.
Thương câu hát để ru bao đời.
Thương cây lúa lớn nhanh theo người.
Dầm mưa dãi nắng, tưới xanh ruộng đồng”.
Đời vui, nước trôi ngược dòng.
Tình phù sa tuy đục mà trong .
Trông con nước nó trôi lạng lùng.
Thương ôi chín nhánh sông quê mình.
Cần Thơ gạo trắng, nước trong là đây”
(Trích “Đàn sáo Hậu Giang” của nhạc sĩ Trần Long Ẩn)
Nét văn hóa đặc sắc của Nam bộ
Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mất của Sư Nguyệt Chiếu (30-9-1947 – 30-9-2007), hội thảo “Sư Nguyệt Chiếu cuộc đời và sự nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam bộ”, do Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu tổ chức vừa qua tại chùa Long Phước (thị xã Bạc Liêu). Hội thảo với sự tham dự của 180 đại biểu gồm chư tôn thiền đức thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đại diện Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh Bạc Liêu, các ban ngành hữu quan, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh, cùng các phật tử. Nhạc lễ và đờn ca tài tử có mối quan hệ mật thiết nhưng vẫn khác nhau tùy theo tính chất phục vụ xã hội. Đó là một nét văn hóa khá đặc sắc của vùng đất Nam bộ đã khởi sắc từ những năm đầu thế kỷ XX.
Tìm lại “lò” nhạc cổ Nam bộ
Ban nhạc chuẩn bị hoà tấu bài Lưu thủy trường “Bá Nha, Tử Kỳ” do GS-TS Nguyễn Thuyết Phong biểu diễn minh họa trong hội thảo.
Nhắc lại cuộc đời và sự nghiệp của nhà sư yêu nước Nguyệt Chiếu, qua 10 trong số hơn 20 tham luận đều đánh giá ngoài Nhạc Khị (tên thật Lê Tài Khí, đã được người đời tôn vinh là Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu), người thứ hai phải kể là Sư Nguyệt Chiếu. Tâm huyết để nhiều thời gian nghiên cứu, ông Trần Phước Thuận, Phó Hiệu trưởng Trường Phật học Bạc Liêu đã mô tả lại cuộc đời và tài năng của Sư Nguyệt Chiếu.
Đờn ca tài tử Miền Tây
Ông tên thật là Lưu Hữu Phước, sinh năm 1882 tại Bạc Liêu. Với nhiệt huyết thời thanh niên, ông tham gia một tổ chức chống Pháp nhưng hoạt động hơn một năm, tổ chức tan rã, ông bị thực dân Pháp truy nã phải ẩn náu ở các chùa vùng Sài Gòn - Gia Đình. Sau đó ông xuất gia, được thầy truyền dạy Phật học và nhạc lễ.
Nắm bắt khá nhanh và giỏi về nhạc lễ, trong thời gian này, Nguyệt Chiếu đã có cơ hội tiếp xúc nhiều người đờn hay nổi tiếng về nhạc lễ. Khi thầy viên tịch, khoảng những năm đầu thế kỷ XX, Nguyệt Chiếu về Bạc Liêu, trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An. Chính nơi đây, ông đã gặp Nhạc Khị và hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao, có cùng chí hướng thực hiện công trình sưu tầm, canh tân, sáng tác và chỉnh tu âm nhạc dân tộc truyền thống, mở đầu sự hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu.

Cổ nhạc Hoài Lang
Cũng từ đấy, phong trào đờn ca tài tử, ca ra bộ và phong trào phục hưng nhạc lễ nở rộ ở vùng đất Nam bộ. Ngoài Nhạc Khị truyền dạy nhạc và hướng dẫn sáng tác cho khá đông học trò, Sư Nguyệt Chiếu cũng bỏ công không nhỏ trong việc đào tạo nhạc lễ và đờn ca tài tử khi ông được mời về ngụ tại chùa Vĩnh Đức, thị xã Bạc Liêu. Những năm tháng này, phần lớn thầy đờn nhạc lễ và đờn ca tài tử giỏi đều xuất thân từ “lò” đào tạo cổ nhạc của Nhạc Khị như Sáu Lầu, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư, Hai Tài, Mộng Vân, Năm Nhỏ, Lý Khi… hay học trò của Sư Nguyệt Chiếu như Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành…
Một điểm khá thú vị, trong thời gian dạy nhạc lễ và đờn ca tài tử, Sư Nguyệt Chiếu thường chú trọng hướng dẫn bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu (lúc sinh thời nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ) kể chính Sư Nguyệt Chiếu đã giúp Cao Văn Lầu đặt tên sáng tác của ông là bài Dạ cổ hoài lang; về sau có người hiểu lầm Sư Nguyệt Chiếu là tác giả). Trong số học trò của Sư Nguyệt Chiếu, nổi bật có Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa, phụ thân của NSƯT Bảo Quốc), Sanh Xía, Chín Quy… Riêng Năm Nghĩa được thành danh trên sân khấu cải lương chính nhờ một phần ông đã biết phát huy cổ nhạc rất sớm, biến đổi giai điệu Dạ cổ hoài lang thành bài Văng vẳng tiếng chuông chùa, mở ra kỷ nguyên vọng cổ nhịp 8, tạo dựng bản nhạc nòng cốt của cải lương.
Phát huy bản sắc Việt
Về nhạc lễ cổ truyền, điểm qua lịch sử phát triển cũng như nhấn mạnh những đóng góp của nhạc lễ, của các vị kinh sư trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung, đời sống xã hội Nam bộ nói riêng, từ xưa đến nay đã được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ qua các bài viết của các ông Trương Ngọc Tường, TS Trần Thuận, TS Nguyễn Thành Đức, TS Thích Huệ Khai, Tỳ kheo Thích Chánh Đức, Đại đức Thích Huệ Thuận… Ghi nhận từ tham luận, GS-TS Trần Văn Khê cho rằng mặc dù có sự kế thừa nhạc lễ từ miền Trung, miền Bắc và nhạc lễ của một số tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhưng nhạc lễ cổ truyền Nam bộ vẫn là thành quả nghệ thuật do sự sáng tạo của các nghệ nhân tiền bối ở các tỉnh phía Nam, đã được cải cách, đổi mới để thích hợp với trào lưu xã hội qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Miền Tây Mến Thương
Phần trình bày của TS Trần Hồng Liên giúp người nghe hình dung khá rõ những dấu ấn văn hóa qua từng thời kỳ, từng không gian lịch sử về sự giao lưu văn hóa trong lễ nhạc Phật giáo, mang lại nét đặc thù nhạc lễ Phật giáo Nam bộ. Mở rộng, so sánh đối chiếu với nhạc lễ các nước trên thế giới và nhìn lại nhạc lễ Việt Nam, GS-TS Nguyễn Thuyết Phong trong ý kiến phát biểu đã nhấn mạnh: “Truyền thống âm nhạc Phật giáo rất to lớn. Đó là do công lao đóng góp của các kinh sư bậc tổ. Các vị tổ này có tấm lòng cao cả vì sự nghiệp âm nhạc dân tộc mà sáng tạo, phát triển để gìn giữ bản sắc Việt. Ông cũng cho rằng chính Sư Nguyệt Chiếu là một trong những vị kinh sư để hậu thế trân trọng tìm hiểu sự nghiệp đóng góp của ông và thành tâm ghi nhớ công ơn của vị tiền bối. Suy ngẫm về quá khứ và hướng đến nền nghệ thuật nước nhà hiện tại, một lần nữa, NSƯT-TS Bạch Tuyết qua tham luận gửi đến, đã bộc bạch tình cảm tri ân của giới nghệ sĩ ngày nay đối với sự đóng góp nghệ thuật và văn hóa rất lớn của Sư Nguyệt Chiếu, một thiền sư - nghệ sĩ.
Nhạc lễ và đờn ca tài tử có mối quan hệ mật thiết nhưng vẫn khác nhau tùy theo tính chất phục vụ xã hội. Đó là một nét văn hóa khá đặc sắc của vùng đất Nam bộ đã khởi sắc từ những năm đầu thế kỷ XX. Từ những đánh giá, soi sáng lại công lao đóng góp của các vị tiền bối Nhạc Khị, Sư Nguyệt Chiếu đối với âm nhạc truyền thống dân tộc, có thể mượn lời của ông La Thanh Việt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bạc Liêu để kết luận: Bạc Liêu đã góp phần rất lớn vào việc phát triển nhạc lễ cổ truyền và góp phần khai sinh ra hoạt động đờn ca tài tử Nam bộ. Nhạc lễ và đờn ca tài tử ngày nay đã trở thành di sản văn hóa quý báu của Nam bộ. Hai di sản này luôn có mối quan hệ đặc biệt và cùng dựa vào nhau để cùng phát triển.
NTST
|